Giới thiệu chung
Skip portletPortlet Menu
 
Tin tức - Sự kiện
Skip portletPortlet Menu
 
Lĩnh vực chuyên môn
Skip portletPortlet Menu
 
Đơn vị trực thuộc
Skip portletPortlet Menu
 
This portlet is temporarily disabled.
 
Liên kết website
Skip portletPortlet Menu
 
 
 
Xóa án tích cho người đã bị kết án - Quy định mới mang tính nhân đạo của pháp luật hình sự Việt Nam (27/03/2017 11:41 AM)

                                       Nguyễn Thu Thủy, Phòng Hành chính tư pháp

Án tích là việc người đã bị kết án (hình sự) và thi hành hình phạt mà chưa được xóa án. Sau khi thi hành bản án hình sự một thời gian nhất định theo quy định thì người bị kết án được đương nhiên xoá án tích hoặc được toà án cấp chứng nhận xoá án tích. Xóa án tích là một chế định quan trọng, thể hiện nguyên tắc nhân đạo, dân chủ Xã hội chủ nghĩa và tôn trọng quyền con người quy định trong Bộ luật Hình sự Việt Nam.

Theo quy định tại Điều 69 của Bộ luật hình sự năm 2015 thì  “ Người bị kết án được xóa án tích theo quy định các điều từ Điều 70 đến Điều 73 của Bộ luật này. Người được xóa án tích coi như chưa bị kết án.” Một quy định rất mới của điều luật này được quy định tại khoản 2 của điều luật, đó là: “ Người bị kết án do lỗi vô ý về tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng và người được miễn hình phạt không bị coi là có án tích” Quy định này cũng có nghĩa là người bị kết án trong những trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 69 BLHS năm 2015 không thuộc trường hợp bị coi là tái phạm, cũng không thuộc trường hợp được coi là dấu hiệu định tội của một số tội phạm có quy định về các trường hợp đã bị xử phạt hành chính, đã bị kết án nhưng chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.

  Về trường hợp đương nhiên được xóa án tích (Điều 70). Đây là một điều luật được sửa đổi, bổ sung nhiều quy định mới, cụ thể như sau:

  Thứ nhất:  Đương nhiên được xóa án tích được áp dụng đối với người bị kết án không phải về các tội quy định tại Chương XIII và Chương XXII của Bộ luật này khi họ đã chấp hành xong hình phạt chính, thời gian thử thách của án treo hoặc hết thời hiệu thi hành bản án mà họ không phạm tội mới và đáp ứng các điều kiện: 01 năm trong trường hợp bị phạt cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ, phạt tù nhưng được hưởng án treo; 02 năm trong trường hợp bị phạt tù đến 05 năm; 03 năm trong trường hợp bị phạt tù từ trên 05 năm đến 15 năm; 05 năm trong trường hợp bị phạt tù từ trên 15 năm, tù chung thân hoặc tử hình nhưng đã được giảm án.

 So với  BLHS năm 1999 thì  các thời hạn để được coi là đương nhiên xóa án tích đã được rút ngắn lại đối với các trường hợp bị phạt tù đến 05 năm, trên 05 năm đến 15 năm và trên 15, tù chung thân hoặc tử hình nhưng đã được giảm án. (Điều 64 BLHS năm 1999 không quy định đương nhiên xóa án tích đối với trường hợp tù chung thân hoặc tử hình nhưng đã được giảm án).

Thứ hai: Trường hợp người bị kết án đang chấp hành hình phạt bổ sung là quản chế, cấm cư trú, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định, tước một số quyền công dân mà thời hạn phải chấp hành dài hơn thời hạn quy định trên, thì thời hạn đương nhiên được xóa án tích sẽ hết vào thời điểm người đó chấp hành xong hình phạt bổ sung.
        Thứ ba: Thẩm quyền xóa án tích trong trường hợp đương nhiên:  Tại khoản 4 điều 70- BLHS năm 2015 quy định: “ Cơ quan quản lý dữ liệu lý lịch tư pháp có trách nhiệm cập nhật thông tin về tình hình án tích của người bị kết án và khi có yêu cầu, thì cấp phiếu lý lịch tư pháp xác nhận không có án tích, nếu có đủ điều kiện quy định tại khoản 2 hoặc khoản 3 Điều này.

Theo quy định mới này, thì Tòa án sẽ không còn trách nhiệm phải cấp giấy chứng nhận xóa án tích cho người đương nhiên được xóa án tích nữa mà trách nhiệm này thuộc về cơ quan hành pháp.  Ngày 13/9/2016, Tòa án nhân dân tối cao ban hành Công văn số 576/TANDTC-PC về việc hướng dẫn áp dụng một số quy định có lợi cho người phạm tội của Bộ luật hình sự năm 2015, trong đó có quy định về xóa án tích trong trường hợp đương nhiên theo quy định tại điều 70- Bộ luật hình sự năm 2015, theo đó,  Sở Tư pháp có trách nhiệm nhận hồ sơ đề nghị xóa án tích trong trường hợp đương nhiên của cá nhân có yêu cầu và hướng dẫn cho những người này thực hiện thủ tục cấp phiếu lý lịch tư pháp theo quy định của Luật lý lịch tư pháp  (Vì nội dung của phiếu lý lịch tư pháp đã thể hiện rõ đương sự đã được xóa án tích hay chưa), sau đó tiến hành xác minh và cấp phiếu LLTP theo quy định.

Về thời hạn cấp phiếu LLTP đối với người được đương nhiên xóa án tích có yêu cầu cấp phiếu LLTP, thì thực hiện theo khoản 1, Điều 48 Luật LLTP là tối đa 15 ngày làm việc kể từ ngày nhận được yêu cầu hợp lệ.  

-Về trường hợp xóa án tích theo quyết định của Tòa án (Điều 71)
Về cơ bản, chế định xóa án tích theo quyết định của Tòa án được kế thừa quy định của Điều 65 BLHS năm 1999, nhưng có một số sửa đổi, bổ sung như sau:

Giảm thời hạn được đề nghị Tòa án ra quyết định xóa án tích đối với trường hợp bị phạt tù trên 05 năm đến 15 năm và trường hợp bị phạt tù từ trên 15 năm, tù chung thân hoặc tử hình nhưng đã được giảm án. Đối với hành phạt bổ sung là quản chế, cấm cư trú, tước một số quyền công dân mà thời hạn phải chấp hành dài hơn thời hạn quy định tại điểm a khoản này, thì thời hạn được xóa án tích sẽ hết vào thời điểm người đó chấp hành xong hình phạt bổ sung.

 - Về xóa án tích trong trường hợp đặc biệt (Điều 72), trong trường hợp người bị kết án có những biểu hiện tiến bộ rõ rệt và đã lập công, được cơ quan, tổ chức nơi người đó công tác hoặc chính quyền địa phương nơi người đó cư trú đề nghị thì Tòa án quyết định việc xóa án tích nếu người đó đã đảm bảo được ít nhất một phần ba thời hạn quy định tại khoản 2 Điều 70 và khoản 2 Điều 71 của Luật.

Như vậy, với những quy định mới của Bộ luật hình sự năm 2015 đã cụ thể hóa các trường hợp xóa án tích, phân định rõ thẩm quyền, điều kiện, thủ tục thực hiện việc xóa án tích...giúp người đã bị kết án có điều kiện được xóa án, tái hòa nhập với cộng đồng xã hội.

 |  Đầu trang
 
<<   <  1  2  3  >  >>
 
 
 
 
 
 
 
 
Thư viện ảnh
Skip portletPortlet Menu